VHO – Từ những tài liệu, hiện vật gắn với cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh đến những bộ sưu tập quý giá phản ánh lịch sử dân tộc; từ giá trị của một thiết chế văn hóa ra đời gần một thế kỷ trước đến vẻ đẹp kiến trúc Đông Dương độc đáo, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đang lưu giữ nhiều lớp trầm tích đặc biệt của lịch sử, văn hóa dân tộc.
Năm nay đánh dấu 80 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên đến thăm bảo tàng. Ngày 9.2.1946, giữa những bộn bề của buổi đầu lập quốc, Người đến dự khai mạc triển lãm “Những tài liệu lịch sử của văn hóa Việt Nam” tại Quốc gia Bảo tàng Viện, tiền thân của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Những di sản được lưu giữ từ lịch sử dân tộc
Sau năm 1954, trên cơ sở tiếp quản, bổ sung tài liệu, hiện vật và chuyển đổi Bảo tàng Louis Finot từ bảo tàng nghệ thuật thành bảo tàng lịch sử, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức mở cửa ngày 3.9.1958. Viện Bảo tàng Cách mạng được xây dựng tại số 25 Tông Đản. Ngày 5.1.1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến xem trưng bày trước ngày Bảo tàng Cách mạng Việt Nam chính thức khánh thành.
Một trong những minh chứng tiêu biểu cho cách ứng xử với di sản là việc bảo vệ Bộ sưu tập bảo vật hoàng cung triều Nguyễn. Hiện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia lưu giữ khoảng 2.500 hiện vật, tạo thành bộ sưu tập quan trọng về đời sống cung đình của vương triều phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Sau lễ thoái vị của vua Bảo Đại ngày 30.8.1945, tài sản của vương triều được kiểm kê, chuyển ra Hà Nội và đến ngày 17.12.1959 được Bộ Tài chính bàn giao cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam quản lý.
Trong những năm kháng chiến, khối bảo vật được đưa về Liên khu V, di chuyển cùng các cơ quan kháng chiến suốt chín năm. Từng có đề nghị bán một phần vàng bạc để bổ sung công quỹ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng ý bởi đó là di sản của cha ông, không thể đem bán. Nhờ vậy, bộ sưu tập được bảo toàn và trở thành một khối di sản đặc biệt của quốc gia.
Cùng với bộ sưu tập hoàng cung, Bảo tàng hiện lưu giữ 4.361 tài liệu, hiện vật và hình ảnh liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phần lớn tư liệu thuộc thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó nhiều hiện vật là độc bản, có giá trị lịch sử, văn hóa cao. Những hiện vật này không chỉ phản ánh hành trình tìm đường cứu nước, quá trình lãnh đạo cách mạng mà còn cho thấy cuộc sống giản dị, sự tận tụy của Người vì độc lập dân tộc, tự do của nhân dân.
Trong số đó có những bảo vật quốc gia đặc biệt như “Đường kách mệnh”, “Ngục trung nhật ký”, bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 19.12.1946; tượng đồng “Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh” năm 1946 của nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim và “Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1949-1950”. Đây vừa là những nguồn sử liệu gốc, vừa mang giá trị văn chương, nghệ thuật và chứa đựng những thông điệp sâu sắc về tư tưởng, ý chí, phẩm chất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Giá trị của các bộ sưu tập không chỉ nằm ở việc lưu giữ. Gần 70 năm qua, tư liệu, hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh được khai thác trong trưng bày thường xuyên, triển lãm chuyên đề, nghiên cứu và biên soạn ấn phẩm. Hệ thống trưng bày hiện giới thiệu 218 hiện vật và 28 ảnh về Người, trong đó có 182 hiện vật gốc. Các trưng bày lưu động cũng đưa lịch sử cách mạng và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến hàng trăm điểm ở nhiều tỉnh, thành phố.
Đặc biệt, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện đang lưu giữ 27 bảo vật quốc gia, là một trong những đơn vị lưu giữ số lượng bảo vật quốc gia lớn nhất tại Việt Nam. Tư liệu còn được cung cấp cho các viện nghiên cứu, trường đại học, nhà xuất bản, cơ quan lưu trữ, báo chí và hơn 40 bảo tàng ở Trung ương, địa phương.
Trong các năm 1993-1994, Bảo tàng cung cấp gần 1.000 trang bản sao bút tích, bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh phục vụ biên soạn “Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử”, “Hồ Chí Minh toàn tập”, “Văn kiện Đảng” và nhiều công trình nghiên cứu.
Một di sản kiến trúc giữa lòng đô thị Hà Nội
Nếu những bộ sưu tập tạo nên “linh hồn” của Bảo tàng thì chính những tòa nhà gần một thế kỷ lại là một “hiện vật” đặc biệt. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hoan, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, đề án xây dựng bảo tàng tại Hà Nội được phê duyệt năm 1925, khởi công năm 1926 và hoàn thành năm 1932 với tên gọi Bảo tàng Louis Finot. Công trình do KTS Ernest Hébrard thiết kế với sự cộng tác của Charles Batteur.
Điểm đặc biệt là ngay từ đầu, đây đã là công trình được thiết kế chuyên biệt cho chức năng bảo tàng. Không gian trưng bày, kho lưu giữ, bảo quản hiện vật và hình thức kiến trúc được tính toán trong một chỉnh thể. Gần một thế kỷ sau, công trình vẫn tiếp tục thực hiện chức năng bảo tàng.
Công trình nằm phía sau Nhà hát Lớn, dọc bờ đê sông Hồng và ở cuối tuyến phố Quai Guillemoto, nay là phố Trần Quang Khải. Khoảng không gian phía trước được xử lý bằng một vườn hoa hình tam giác, tạo khoảng đệm giữa đường phố và công trình. Việc tiếp giáp với ba mặt đường cũng tạo khả năng kết nối bảo tàng với các thiết chế văn hóa, nghiên cứu và giao thông xung quanh.
Trong bố cục công trình, cổng, sân, vườn và tòa nhà được tổ chức theo một trục. Cổng gợi liên tưởng đến tam quan truyền thống Việt Nam, trong khi lối tiếp cận lên sảnh mang yếu tố kiến trúc phương Tây. Tòa nhà chính với hai cánh phía trước và khối nhà chạy sâu phía sau vừa mang tính tổ chức của kiến trúc phương Tây, vừa gợi cấu trúc chữ Đinh trong kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Bản sắc nổi bật của tòa nhà nằm ở sự đối thoại Đông – Tây. Đây là một biểu hiện tiêu biểu của kiến trúc Đông Dương, trong đó những yếu tố phương Tây được kết hợp, chuyển hóa với kiến trúc, mỹ thuật và văn hóa phương Đông. Tòa bát giác ở vị trí trung tâm, hệ thống con sơn, mái bát giác, mái ngói dốc cùng nhiều chi tiết trang trí gợi dấu ấn của kiến trúc Trung Hoa, Khmer và Việt Nam. Những đường kỷ hà ở đầu mái được cách điệu từ hình thức đầu đao truyền thống.
Ở hệ thống hành lang, mái ngói âm dương, lan can, cột và các chi tiết mô phỏng kỹ thuật kiến trúc gỗ truyền thống tiếp tục tạo nên sự giao thoa. Đặc biệt, hệ thống cột bê tông cốt thép được tạo hình theo nguyên tắc của kiến trúc gỗ, với thức cột “đòng lúa”, các cặp cột phân chia không gian thành từng gian và những chi tiết mô phỏng mộng liên kết. Vật liệu hiện đại vì thế được chuyển hóa để tạo nên một ngôn ngữ kiến trúc mới.
Công trình cũng cho thấy trình độ kỹ thuật đáng chú ý với hệ móng bê tông cốt sắt kết hợp kè đá tảng gia cố; hệ thống hành lang có mái che, cửa kính lấy sáng, giải pháp thông gió, tầng hầm và tường dày vừa đáp ứng công năng bảo tàng, vừa phù hợp với điều kiện khí hậu và yêu cầu bảo quản hiện vật.
Trải qua gần một thế kỷ, tòa nhà Bảo tàng Lịch sử Quốc gia không còn đơn thuần là nơi lưu giữ các bộ sưu tập. Bản thân công trình đã trở thành một lớp di sản cần được nhận diện, bảo tồn và phát huy. Như bà Nguyễn Thị Thu Hoan khẳng định, đây có thể xem như một “kho tư liệu kiến trúc” đặc biệt, lưu giữ câu chuyện về quy hoạch đô thị, kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc và sự gặp gỡ giữa các nền văn hóa.
Từ những hiện vật lịch sử được gìn giữ qua chiến tranh đến một công trình kiến trúc đã đứng vững gần một thế kỷ, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đang lưu giữ nhiều tầng giá trị của ký ức dân tộc. Bảo tồn di sản hôm nay vì thế không chỉ là giữ lại những gì thuộc về quá khứ, mà còn làm cho di sản tiếp tục được hiểu, được tiếp cận và phát huy trong đời sống đương đại, trở thành nền tảng cho giáo dục, sáng tạo và nuôi dưỡng tình yêu lịch sử, văn hóa Việt Nam.